Lịch sử - Địa lý

Địa lý

Diện tích: 243.000 km2 - Area: 243,000 sq. km. (93,000 sq. mi.);

Các Thành phố: Thủ đô: Luôn đôn (dân số khoảng 7,56 triệu người). Các thành phố khác: Birmingham, Glasgow, Leeds, Sheffield, Liverpool, Bradford, Manchester, Edinburgh, Bristol, Belfast.

Địa hình: 30% đất trồng, 50% đồng cỏ và chăn thả súc vật, 12% đất trống hoặc là thành thị, 7% là rừng, 1% nước.

Đất sử dụng: 25% đất trồng, 46% đồng cỏ và bải chăn thả súc vật, 10% là rừng và đất trồng rừng, 19% là các loại khác.

Khí hậu: Thông thường thời tiết thì se lạnh và có gió; thời tiết thường xuyên thay đổi nhưng không quá lạnh cũng như không quá nóng.

Lịch sử

Đế chế La mã đã xâm chiếm Anh vào năm thứ 55 trước Công nguyên và hầu hết các cuộc sát nhập nước Anh vào đế chế La mã sau đó kích thích sự phát triển và mang lại nhiều mối liên hệ với các phần còn lại của Châu Âu. Cùng với sự suy tàn của Rome, đất nước Anh một lần nữa lại bị xâm chiếm- từ cuộc đô hộ của người Anglo Saxon và Jute vào thế kỷ thứ năm và thứ sáu sau Công nguyên cho đến khi người Norman xâm chiếm năm 1066. Sự cai trị của người Norman đã đảm bảo cho nước Anh được an toàn khỏi các xâm nhập sau này; các thể chế chắc chắn vẫn có thể phát triển trong khi tính cách của người Anh vẫn giữ được. Trong đó có thể chế chính trị, hành chính, văn hóa và trung tâm kinh tế ở Luân Đôn, một thể chế độc lập được thành lập là nhà thờ; một hệ thống luật chung; một hệ thống giáo dục đặc biệt và đặc sắc; và một Chính phủ đại diện.

Liên minh

Cả Xứ Wales và Scotland đều là những quốc gia độc lập chống lại nước  Anh. Sự xâm chiếm của Anh vào xứ Wales đã xảy ra năm 1282 dưới thời Vua Edward I và đạo luật Rhuddlan được thiết lập tại Anh 2 năm sau. Để nhượng bộ người xứ Wales, con trai của Vua Edward (sau này là Edward II), người đã được sinh ở xứ Wale được phong là Hoàng tử của xứ Wale năm 1301. Truyền thống của việc phong danh hiệu này cho người con trai lớn nhất của Hoàng gia Vương quốc Anh vẫn tiếp tục cho đến ngày hôm nay. Đạo luật 1536 về thể chế chính trị và hành chính đã được ban hành giữa Anh và xứ Wales.

Trong khi vẫn duy trì các quốc hội độc lập, Anh và Scotland có chung một nhà vua từ năm 1603, khi vua James VI của Scotland được kế vị từ chị họ là Nữ hoàng Elizabeth I với niên hiệu James I của nước Anh. Trong suốt quá trình kéo dài 100 năm sau đó, sự khác biệt lớn về tôn giáo và chính trị đã chia cắt các vưong quốc này. Cuối cùng đến năm 1707, Anh và Scotland đã được thống nhất là Great Britain và chia nhau một Quốc hội độc lập tại Westminster.

Ai-len bị người Anglo-Norman xâm chiếm năm 1170 dẫn đến sự xung đột hàng thế kỷ. Các vì vua nước Anh đã liên tiếp tìm cách chinh phục Ai-len. Vào đầu thế kỷ 17, một sự thỏa thuận chia cắt phần lớn phía bắc của Scotland và Anh bắt đầu. Sau khi bị đánh bại, Ai-len nằm dưới quyền cai trị theo sự giám sát và quy định của Anh với các mức độ khác nhau.

Luật liên minh của Great Britain và Ai-len được ban hành 1 tháng 1 năm 1801, dưới cái tên của Liên hiệp Vương quốc Anh. Tuy nhiên, cuộc đấu tranh giành độc lập thỉnh thoảng vẫn được tiếp diễn đến tận thế kỷ 20. Hiệp ước thỏa thuận Anglo-Ailen năm 1921 đã thành lập Quốc gia Tự do Ai-len, sau đó đã tách ra khỏi Khối thịnh vương chung Anh và trở thành một nước cộng hòa sau Thế chiến Thế giới II. 6 tình phía bắc, với phần lớn là những người theo đạo Tin Lành vẫn thuộc phần của Liên hiệp Vương quốc Anh.

Sự mở rộng của người Anh và nền Đế chế

Bắt đầu bằng việc ủng hộ vua William - Kẻ Chinh Phục xâm chiếm nước Pháp (từ năm 1029 – 1087), chính sách của người Anh về việc tích cực can thiệp vào các nước thuộc thuộc địa Châu Âu đã kéo dài hàng trăm năm. Vào cuối thế kỷ 14, thương mại với nước ngoài, dựa vào việc xuất khẩu len sang Châu Âu đã nổi lên là phần quan trọng của chính sách quốc gia.

Sự gia tăng sức mạnh hải quân đã dần dần bảo vệ được ngành thương mại Anh và mở ra những tuyến đường biển mới. Việc đánh bại chiến hạm Tây Ban Nha Armada vào năm 1588 đã làm cho Anh quốc trở thành một cường quốc chính ở trên biển. Sau đó nước Anh đã mở rộng mạnh mẽ mối quan tâm kinh tế của mình ra ngoài các lãnh thổ Châu Âu. Hấp dẫn bởi lợi nhuận từ việc buôn bán hương liệu, Anh đẩy mạnh mậu dịch buôn bán với các nước ở vùng Trung Đông. Để tìm kiếm các tuyến đường mới đến những vùng đảo Hương Liệu, John Carbot đã vươn xa tới lục địa Bắc Mỹ năm 1498. Ngài Walter Raleigh thiết lập khu thuộc địa đầu tiên tại Virginia năm 1584, và bắt đầu sự lưu trú lâu dài của người Anh tại Jamestow, Virginia năm 1607. Trong suốt hai thế kỷ sau đó, người Anh đã nhanh chóng mở rộng sự ảnh hưởng ra nước ngoài và tập trung phát triển nền chính trị tại nước nhà.

Cuộc cách mạng công nghiệp của nước Anh đã gia tăng mạnh mẽ khả năng chống lại nước Pháp  dưới thời Napoleon. Vào cuối cuộc chiến tranh Napoleon năm 1815, Liên hiệp Vương quốc Anh là cường quốc quân sự mạnh nhất Châu Âu và hạm đội Anh làm chủ trên các đại dương. Hòa bình ở Châu Âu cho phép Anh tập trung sự quan tâm của họ vào những phần còn lại của Thế giới và trong suốt thời kỳ này, Đế chế Anh quốc đã đạt đến đỉnh cao nhất. Thuộc địa của Anh được mở rộng và đạt đến đỉnh cao trong suốt thời kỳ của Nữ hoàng Victoria (1837 -1901). Triều đại của Nữ hoàng Victoria đã chứng kiến việc mở rộng nền công nghiệp, thương mạị Anh, ngôn ngữ và sự cai trị trong toàn bộ Đế chế Anh, là thời kỳ mà sự mở rộng liên hiệp Anh được tăng nhanh nhất, chiếm từ khoảng 1/5 đến 1/4 Thế giới cả về diện tích lẫn dân số. Các thuộc địa của Anh đã mang lại cho Liên hiệp Vương quốc Anh sự phát triển kinh tế một cách phi thường và có tiếng nói mạnh đối với Thế giới. Cùng với việc phát triển đế chế của Liên hiệp Vương quốc Anh ra nước ngoài, nền dân chủ tại nước nhà cũng được phát triển và mở rộng.

Thế kỷ 20

Vào thời điểm Nữ hoàng Victoria qua đời năm 1901, một số quốc gia khác bao gồm cả Mỹ và Đức, đã phát triển nền công nghiệp của họ; tạo ra những thách thức cho nền kinh tế Liên hiệp Vương quốc Anh, và tham vọng cạnh tranh đã được đẩy mạnh. Sự mất mát và tàn phá của Thế chiến lần thứ 1, cuộc Đại Khủng Hoảng vào những năm 1930 và hàng thập kỷ giảm tăng trưởng đã xói mòn vị trí ưu việt của Liên hiệp Vương quốc Anh so với thập kỷ trước.

Sự kiểm soát của Đế chế Anh đã bị mất dần trong suốt thời kỳ nội chiến. Ai-len, ngoại trừ 6 tỉnh phía bắc, đã dành được độc lập từ Liên hiệp Vương quốc Anh vào năm 1921. Chủ nghĩa dân chủ đã trở nên mạnh mẽ hơn ở những thuộc địa khác của Đế chế, đặc biệt là ở Ấn độ và Ai cập.

Vào năm 1926, nước Anh để hoàn tất một quá trình kéo dài từ thế kỷ trước, chấp nhận cho Úc, Canada, và New Zealand quyền tự trị hoàn toàn trong phạm vi của Liên Hiệp Anh. Họ trở thành thành viên của Khối thịnh vượng chung các quốc gia Anh (nay được biết đến như là Khối Thịnh vượng chung), tuy không chính thức nhưng liên minh này đã gắn kết thành một tổ chức kế thừa của  đế chế Anh. Bắt đầu với sự giành độc lập của Ấn Độ và Pakistan vào năm 1947, phần còn lại của Đế chế Anh gần như hoàn toàn bị phá hủy. Ngày nay, hầu hết những nước thuộc địa cũ của Anh đều là thành viên của Khối Thịnh Vượng, và hầu hết các nước này là các thành viên độc lập. Tuy nhiên, 13 thuộc địa cũ gồm cả Myanmar, Gibrata, Quần đảo Falkland, và nhiều nơi khác, những nước vẫn tiếp tục chọn lựa thể chế chính trị liên quan đến Luôn đôn và bây giờ được biết đến là Những lãnh thổ ngoài biên giới Anh.

Cho dù thường xuyên được biết đến với chính sách kinh tế và chủ nghĩa chính trị quốc gia, Khối thịnh vượng chung vẫn là tiếng nói của Liên hiệp Vương quốc Anh trong nhiều lĩnh vực đối với nhiều nước đang phát triển. Hơn thế nữa, Khối thịnh vương chung giúp đỡ bảo trợ rất nhiều thể chế có nguồn gốc từ những kinh nghiệm và khuôn mẫu của Anh, như là quốc hội dân chủ ở những nước này.

quay lại Vương quốc Anh