Chính phủ

Liên hiệp Vương quốc Anh có một hiến pháp không thành văn. Mọi quy định của luật đều dựa vào quan hệ pháp lý, luật chung và “Quyền chung”. Những thay đổi thường được Quốc hội chính thức thông qua,được chấp nhận một cách không chính thức bằng việc áp dụng thực tế, hoặc được quyết định theo các án lệ đã xảy ra. Mặc dù về lý thuyết Quốc hội có quyền thông qua hoặc hủy bỏ bất kỳ luật nào, nhưng trên thực tế sức nặng hơn 700 năm lịch sử pháp luật vẫn giới hạn  các hành động này.

Quyền hành pháp thông thường nằm trong tay Nữ hoàng, nhưng thực tế nó được điều hành bởi một nội các gồm các bộ trưởng được chọn lựa chủ yếu từ các thành viên của Hạ viện và một số ít từ Nghị viện. Thủ tướng thường là người đứng đầu của đảng lớn nhất trong Viện, và Chính phủ phụ thuộc vào đảng này.

Quốc hội đại diện cho toàn thể đất nước. Quốc hội chịu trách nhiệm thực thi luật pháp của đất nước trong các vấn đề liên quan không được trao lại cho Scotland, xứ Wale và Bắc Ai-len, như chính sách nước ngoài, chính sách năng lượng, nhập cư và quyền kiểm soát biên giới và các chính sách tiền tệ. Đối với các vấn đề khác, vIệc giao lại quyền lập pháp cho Scotland, Bắc Ai-len và xứ Wales có nhiều mức độ khác nhau. Vương quốc Anh không có cơ quan lập pháp riêng biệt và do đó Quốc hội có thể làm luật cho tất cả các lĩnh vực của nước Anh. Từ tháng năm 2010, một nhiệm kỳ quốc hội kéo dài tối đa là 5 năm và Thủ tướng có quyền yêu cầu nhà vua giải tán Quốc hội và kêu gọi một cuộc bầu mới vào bất kỳ lúc nào. Sau cuộc bầu cử ngày 06/05/2010, một liên minh chính phủ mới được thành lập giữa Đảng Bảo thủ và Đảng Dân chủ Tự do đã thông báo những kế hoạch để giữ vững nhiệm kỳ Quốc hội 5 năm, trong đó đề nghị giải pháp duy nhất để giải tán chính phủ giữa các cuộc bầu cử là bằng cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm với ít nhất 55% ủng hộ của các thành viên quốc hội. Đề xuất này vẫn chưa được ban hành. Mối quan tâm chính của cơ quan lập pháp là  650 thành viên của Hạ Viện, nơi có quyền quyết định đối với ngân sách quốc gia. Nghị Viện, mặc dù bị mất đi quyền lực nhưng vẫn có thể rà soát, sửa chữa hoặc hoãn tạm thời bất kỳ dự luật nào ngoại trừ có liên quan đến ngân sách. Nghị Viện có nhiều thời gian hơn Hạ Viện để theo đuổi một trong những vấn đề quan trọng hơn của mình - các vấn đề xã hội. Vào năm 1999, Chính phủ đã bãi bỏ truyền thống Thượng Nghị sỹ cha truyền con nối trong Nghị Viện. Nghị Viện bây giờ bao gồm các Thượng Nghị sỹ được bổ nhiệm, những người nắm giữ vị trí này suốt đời và 92 Thượng Nghị sỹ được kế thừa, những người sẽ nắm giữ vị trí của họ cho đến khi các sửa đổi cuối cùng được thông qua và thực thi. Tòa án đứng độc lập với cơ quan lập pháp và hành pháp nhưng không thể xem xét tính hợp pháp của luật thi hành.

Sau cuộc  trưng cầu dân ý của người Scotland và người xứ Wales năm 1997, Chính phủ Anh đã thành lập Quốc hội Scotland và Quốc hội xứ Wales và cả hai quốc hội này đã được hoạt động từ năm 1999. Scotland, xứ Wales và Bắc Ai-len bây giờ đã có cơ quan lập pháp và hành pháp riêng để thực thi pháp luật, mặc dù mỗi nước có một mức độ tự quyết khác nhau.  Các chính phủ tự trị này đã đảm trách rất nhiều chức năng mà trước đây do các văn phòng Scotland, xứ Wales và Bắc Ai-len đảm nhiệm với mục đích là cầu nối giữa các chính quyền sở tại với chính quyền Westminster trung ương và đại diện cho những lợi ích không được giao cho các chính quyền này. Scotland luôn luôn duy trì một hệ thống luật riêng biệt (gọi là Luật Scots), hệ thống giáo dục, chính phủ địa phương, tòa án và hệ thống nhà thờ quốc gia (hệ thống Nhà thờ của Scotland thay cho hệ thống Nhà thờ của Anh).

Bắc Ai-len có Quốc hội và Thủ tướng của họ từ năm 1921 cho đến năm 1973, khi Chính phủ Anh áp đặt  luật trực tiếp để giải quyết các vấn đề xung đột chính trị và tình hình an ninh này càng xấu. Từ năm 1973, Ngoại trưởng Bắc Ai-len, có trụ sở tại London đã chịu trách nhiệm về các vấn đề về vùng, bao gồm cả những nỗ lực giải quyết các vấn đề đằng sau cái gọi là “những rắc rối”.

Vào giữa những năm 1990, những động thái tiến tới hòa bình đã được người kế nhiệm của Chính phủ Anh và Bắc Ai-len và Tổng thống Bill Clinton khuyến khích từ đó đã mở ra cánh cửa tái lập lại chính phủ địa phương tại Bắc Ai-len. Các cuộc đàm phán đa phương trong gần hai năm do cựu Thượng Nghị sỹ George Mitchell dẫn dắt  và việc ngừng bắn của Quân đội Cộng Hòa Ai-len đã dẫn đến kết quả là Thỏa thuận Belfast đã được ban hành (còn được gọi là Thỏa ước Ngày thứ Sáu tốt lành) vào tháng 10/4/1998. Sau đó thỏa thuận này đã được sự ủng hộ của phân đông dân chúng Bắc Ai-len và Cộng hòa Ai-len. Những yếu tố quan trọng của Thỏa thuận bao gồm việc chuyển giao chính phủ, một thỏa thuận của các đảng phái để tiến tới “giải trừ quân bị của tất cả các tổ chức bán quân sự”, cải tổ cảnh sát, và cải tổ cơ chế để đảm bảo quyền con người và cơ hội. Thỏa thuận ngày Thứ Sáu tốt lành cũng được coi là mối quan hệ hợp tác chính thức giữa các thể chế của Bắc Ai-len và Chính phủ của Cộng hòa Ai-len và nó được gọi là Hội đồng Anh-Ai-len, nơi bao gồm cả đại diện của cả Chính phủ Anh và Ai-len, cũng như bao gồm cả chính phủ chuyển nhượng Bắc Ai-len, Scotland và xứ Wales. Chính phủ chuyển nhượng đã được thành lập lại tại Bắc Ai-len vào tháng 12/1999 cho dù nhiều chức năng chính như cảnh sat và quyền lực tòa án vẫn còn dưới sự giám sát của Westminster.

Thòa thuận ngày Thứ Sáu Tốt Lành đã chọn ra 108 thành viên Quốc hội, được giám sát bởi 12 Bộ trưởng trong Ủy ban Chấp hành (nội các) bao gồm cả đại diện phe liên hiệp và của chủ nghĩa dân tộc cùng có trách nhiệm lãnh đạo. 18 đại diện đắc cử cho Bắc Ai len tham dự vào Nghị viện Westminster tại London. Tuy nhiên, 5 thành viên của phe Sinn Fein tại Nghị viện, những người đã đắc cử ở cuộc bầu lần trước, áp dụng chính sách vắng mặt theo đó họ từ chối ghế của họ, cho dù vẫn duy trì văn phòng và thực hiện nghĩa vụ theo hiến pháp. Tiến trình của Thỏa thuận ngày Thứ Sáu tốt lành đã đạt được những bước tiến quan trọng. Điều đáng kể nhất là sự hiện diện đáng kể của một lực lượng  cảnh sát mới, và Quân đội Cộng Hòa Ai-len  cùng với những người ủng hộ chế độ cộng hòa và các nhóm bán quân sự đã từ bỏ vũ khí. Tuy nhiên, một số các nhóm nhỏ những người theo chủ nghĩa cộng hòa vẫn tiếp tục chống đối lại tiến trinh hòa bình và gia tăng bạo lực, đặc biệt là việc chống lại cảnh sát, quân đội Anh, và các cơ quan thi hành luật pháp. Việc không đồng tình với việc thực thi các mục tiêu của bản thỏa thuận và các cáo buộc quân đội Cộng Hòa Ai-len PIRA vẫn tiếp tục ủng hộ các hoạt động bán quân sự làm cản trở tiến trình hòa bình trong nhiều năm. Tháng 10/2002, các đơn vị chính quyền chuyển giao tại Bắc Ai-len đã bị đình chỉ hoạt động do cáo buộc của cơ quan thu thập tình báo IRA tại vùng Stormont, nơi có ghế đại diện của chính phủ Bắc Ai-len. Kế hoạch bầu cử Quốc hội vào tháng 5/2003 đã bị hoãn lại. Bầu cử đã được tổ chức lại vào tháng 11/2003, nhưng Quốc hội vẫn bị trì hoãn. Cuối cùng vào năm 2007, các đảng đã ký Hiệp ước St. Andrew để chuẩn bị cho việc Chính phủ Bắc Ai-len đứng độc lập và cho việc chuyển giao quyền lực cho Belfast được tiến hành. Trách nhiệm của cảnh sát và tòa án tại Bắc Ai-len là phần cuối cùng của việc chuyển giao quyền lực đã được thực hiện; thỏa thuận Hillsborough ký ngày 4 tháng 2 năm 2010 đã bắt đầu việc chuyển giao quyền lực từ chính quyền London đến chính quyền Ai-len từ ngày 12 tháng 4 năm 2010.  Chính phủ Hoa Kỳ ủng hộ mạnh mẽ các tiến trình hòa bình tại Bắc Ai-len và việc thực thi đầy đủ Thỏa Thuận Ngày Thứ Sáu Tốt Lành cùng với các thỏa thuận sau đó là phương pháp tốt nhất đảm bảo hòa bình.  Chính phủ Hoa Kỳ không chấp nhận bất kỳ hành động khủng bố, bạo lực nào của bất kỳ tổ chức nào.

Chính phủ Mỹ cũng cam kết ủng hộ sự phát triển kinh tế của Bắc Ai-len, và cử một phái đoàn kinh tế đến nước này thang 9 năm 2009 để làm việc với chính phủ và các tổ chức kinh tế tư nhân nhằm thúc đẩy các cơ hội thương mại và đầu tư.  Chính phủ Hoa Kỳ luôn là người ủng hộ mạnh mẽ của Quỹ Tín Dụng Quốc Tế đối với Bắc Ai-len, để cung cấp các khoản vay, hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp phát triển nền kinh tế,giảm thiểu bất bình đẳng trong việc làm, tệ quan lieu, và đẩy mạnh mối liên kết các cộng đồng và mậu dịch xuyên biên giới.

Các cơ quan Chính phủ

  • Đứng đầu Nhà nước – Nữ hoàng Elizabeth II
  • Thủ tướng (Đứng đầu Chính phủ)- David Cameron (Đảng Bảo thủ)
  • Phó Thủ tướng – Nick Clegg (Đảng Tự do Dân chủ)
  • Bộ trưởng Bộ Ngoại giao - William Hague
  • Đại sứ tại Mỹ - Nigel Sheinwald
  • Đại sứ tại Liên hiệp Quốc - Mark Lyall Grant

CÁC ĐIỀU KIỆN CHÍNH TRỊ ( HOÀN CẢNH CHÍNH TRỊ - DIỄN BIẾN CHÍNH TRỊ)

Chính phủ thuộc Đảng Lao động đã giành được quyền lực từ năm 1997, Thủ tướng đầu tiên là Tony Blair và người kế nhiệm sau đó là Gordon Brown, vào kỳ bầu cử tháng 6/2010 đảng đã mất quyền đa số tại Hạ viện. Kể từ năm 1974, đây là lần đầu tiên không có một đảng phái nào giành được đa số phiếu bầu tại Hạ Nghị viện, điều này đã dẫn đến việc đàm phán gay gắt trong nhiều ngày giữa Đảng Bảo thủ (Tories), chiếm hầu hết ghế trong Hạ viện và Đảng Dân chủ Tự do (Lib Dems) có số ghế đứng hàng thứ ba. Vào ngày 11/05 khi  đã rõ rằng Đảng Lao động không thể thành lập chính phủ, thủ tướng Gordon Brown đã từ chức và ông David Cameron đã trở thành Thủ tướng mới. Ông Cameron sau đó công bố một liên minh chính thức với Đảng Dân chủ Tự do nhằm dành được sự ủng hộ của Đảng này cho một chính phủ đứng đầu là Đảng Bảo thủ và đổi lại Đảng Dân chủ Tự do sẽ có 5 ghế trong nội các và một số thỏa hiệp chính sách. Như một phần của thỏa thuận liên minh, lãnh đạo đảng Dân chủ Tự do Nick Clegg đã trở thành Phó Thủ tướng. Liên minh Dân chủ Tự do- Bảo thủ,  có 78 ghế, chiếm đa số trong Hạ viện, còn Đảng Lao động là phe đối lập. Việc Gordon Brown đã từ chức lãnh đạo Đảng Lao động vào ngày 11/05, đã thúc đẩy bầu cử để chọn người mới vào vị trí này dự kiến tổ chức vào tháng 9 năm 2010

NGOẠI GIAO VÀ QUỐC PHÒNG

Liên hiệp Vương quốc Anh là 1 thành viên sáng lập của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) và là một trong những cường quốc lớn của Châu Âu về không quân, hải quân trong khối quân sự Bắc Đại Tây Dương Trong khối Nato, Anh là nước đứng thứ 3 về chi phí cho quân sự. Liên hiệp Vương Quốc Anh là thành viên của Cộng đồng Châu Âu (nay là Liên minh Châu Âu) từ năm 1973. Anh là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Anh nắm giữ vị trí Chủ tịch của khối G-8 trong suốt năm 2005; và là Chủ tịch của EU từ tháng 7 – 12/2005.

Lực lượng vũ trang Anh   được giao nhiệm vụ bảo vệ Vương quốc Anh và  các vùng lãnh thổ của Anh ở nước ngoài, đẩy mạnh quyền lợi an ninh rộng lớn hơn của Anh quốc và hỗ trợ các nỗ lực gìn giữ hoà bình quốc tế. 37.000 lính Hải quân Hoàng gia, trong đó có 6.000 thủy quân lục chiến chịu trách nhiệm về chiến lược vũ khí nguyên tử của nước Anh và được giao trọng trách quản lý 4 tàu ngầm phóng tên lửa Trident.  Quân đội Anh gồm có xấp xỉ khoảng 99.200 quân nhân, Lực lượng không quân Hoàng gia với 42.000 quân nhân, cùng với  lực lượng Hải quân Hoàng gia và lực lượng Thủy quân Lục chiến Hoàng gia đang hoạt động và tham gia thường xuyên tại NATO và các hoạt động liên minh khác.Khoảng xấp xỉ 9% Lực lượng Vũ trang Anh là nữ và 4% là người dân tộc thiểu số.

Sau vụ khủng bố nước Mỹ ngày 11/9/2001 Anh và Mỹ đã sát cánh nhau trong cuộc chiến chống khủng bố và trong lực lượng liên minh ở Afganistan, đội quân của Anh đứng thứ 2 sau Mỹ. Đã có khoảng 10.000 quân Anh có mặt ở Afganistand tính đến 06/05/2010, chủ yếu đóng quân ở vùng Helmand, nơi tuyến đầu của cuộc chiến chống các hoạt động của lực lượng Taliban. Hơn thế nữa, Anh còn đóng góp hơn 510 triệu bảng Anh (xấp xỉ 723.4 triệu Đô la Mỹ) cho công cuộc tái thiết đất nước` Afganistan – Anh là nước viện trợ lớn thứ hai sau Mỹ. Anh cũng là đồng minh chính của Mỹ trong Chiến dịch Tự do Iraq, và lực lượng này đã rút khỏi Iraq vào tháng 7/2009.

quay lại Vương quốc Anh